Nguyễn Giang •
Dự thảo Luật lần đầu đề xuất hệ thống dấu hiệu nhận diện giao dịch đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa, tạo thêm cơ sở phòng, chống rửa tiền và nâng độ tin cậy của thị trường.
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng đang đề xuất đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm đối tượng báo cáo về phòng, chống rửa tiền; đồng thời bổ sung hệ thống dấu hiệu nhận diện giao dịch đáng ngờ trong lĩnh vực này.

Dự thảo Luật lần đầu đề xuất hệ thống dấu hiệu nhận diện giao dịch đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa, tạo thêm cơ sở phòng, chống rửa tiền và nâng độ tin cậy của thị trường. Ảnh: Quốc Tuấn
Đây là bước chuẩn bị đáng chú ý trong bối cảnh Việt Nam đang từng bước hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho thị trường tài sản mã hóa. Nếu trước đây hoạt động phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực này còn thiếu các tiêu chí nhận diện phù hợp với đặc thù giao dịch, dự thảo lần này đã bước đầu hình thành cơ sở để tổ chức cung cấp dịch vụ sàng lọc, đánh giá và phát hiện sớm những giao dịch có nguy cơ cao.
Dự thảo không chỉ dựa vào giá trị giao dịch, mà còn nhận diện rủi ro thông qua hành vi, phương thức và mô hình giao dịch. Trong đó có việc chia nhỏ giao dịch nhằm né ngưỡng nhận biết khách hàng hoặc ngưỡng báo cáo; liên tiếp thực hiện các giao dịch giá trị lớn nhưng không có mục đích kinh doanh rõ ràng; nạp, giao dịch rồi rút tài sản trong thời gian rất ngắn; hoặc sử dụng tài khoản mới mở, tài khoản không hoạt động trong thời gian dài để giao dịch.
Các trường hợp chuyển tài sản mã hóa tới nhiều nhà cung cấp dịch vụ tại quốc gia, vùng lãnh thổ có nguy cơ cao; liên tục chuyển đổi giữa nhiều loại tài sản dù phải chịu mức phí hoặc thua lỗ bất thường; nhiều tài khoản cùng chuyển tài sản về một địa chỉ ví; hoặc một tài khoản phân tán tài sản tới nhiều địa chỉ ví với giá trị tương đương trong thời gian ngắn cũng được đề xuất xác định là dấu hiệu cần sàng lọc.
Một nội dung mới khác là việc nhận diện hành vi sử dụng tài sản mã hóa có tính năng tăng cường ẩn danh, dịch vụ trộn giao dịch hoặc liên tục chuyển đổi qua nhiều loại tài sản nhằm che giấu nguồn gốc, đường đi của dòng tài sản. Dự thảo cũng đề cập các giao dịch liên quan đến địa chỉ ví hoặc nền tảng đã được cảnh báo có liên hệ với lừa đảo, tống tiền, cờ bạc bất hợp pháp, chợ đen hoặc tài sản bị đánh cắp.
Phạm vi nhận diện còn được mở rộng sang cách khách hàng truy cập và sử dụng nền tảng, chẳng hạn sử dụng công cụ che giấu danh tính, ẩn địa chỉ IP; dùng nhiều địa chỉ IP không phù hợp với thông tin địa lý đã xác minh; hoặc nhiều ví đứng tên các chủ thể khác nhau nhưng có dấu hiệu được vận hành từ cùng một thiết bị.
Đáng chú ý, dự thảo cũng hướng tới nhận diện tình trạng đứng tên hộ hoặc bị lợi dụng làm trung gian. Người có hiểu biết hạn chế về tài sản mã hóa nhưng thực hiện giao dịch với tần suất, giá trị lớn không phù hợp với hồ sơ tài chính, hoặc hoàn toàn làm theo chỉ dẫn của bên thứ ba, có thể thuộc nhóm cần tăng cường xác minh.
Những đề xuất trên cho thấy cách tiếp cận quản lý đang chuyển từ việc chỉ quan sát giá trị giao dịch sang đánh giá tổng thể hành vi, thiết bị, địa chỉ ví, địa bàn giao dịch và mối liên hệ giữa các chủ thể. Tuy nhiên, dấu hiệu đáng ngờ chỉ nên là căn cứ ban đầu để sàng lọc, không đồng nghĩa với việc giao dịch đó mặc nhiên vi phạm pháp luật.
Đây cũng là vấn đề có ý nghĩa trực tiếp với doanh nghiệp. Nếu tiêu chí chưa đủ rõ, tổ chức cung cấp dịch vụ có thể phải tự đánh giá theo cách hiểu riêng, dẫn đến áp dụng thiếu thống nhất, bỏ lọt giao dịch có rủi ro hoặc báo cáo quá mức đối với những giao dịch hợp pháp.
Trao đổi với Diễn đàn Doanh nghiệp, Luật sư Nguyễn Đức Biên – Giám đốc Công ty Luật TNHH Đại La cho rằng việc đề xuất hệ thống dấu hiệu nhận diện giao dịch đáng ngờ là bước đi cần thiết trong quá trình xây dựng khuôn khổ pháp lý cho thị trường tài sản mã hóa.

Luật sư Nguyễn Đức Biên – Giám đốc Công ty Luật TNHH Đại La. Ảnh: Nguyễn Giang
Theo luật sư, tài sản mã hóa có thể được chuyển giao nhanh, xuyên biên giới và qua nhiều địa chỉ ví. Bên cạnh đó, một số công cụ, dịch vụ có thể được sử dụng để tăng mức độ ẩn danh, gây khó khăn cho việc xác định chủ thể và truy vết dòng tài sản.
“Điểm đáng chú ý không nằm ở việc bổ sung thêm các dấu hiệu đáng ngờ, mà ở chỗ lần đầu tiên dự thảo Luật hình thành một hệ thống tiêu chí nhận diện rủi ro tương đối toàn diện đối với giao dịch tài sản mã hóa. Đây là cơ sở để doanh nghiệp chủ động sàng lọc, đánh giá rủi ro ngay trong quá trình cung cấp dịch vụ, thay vì chủ yếu dựa vào kinh nghiệm hoặc cách hiểu riêng”, Luật sư Nguyễn Đức Biên phân tích.
Tuy nhiên, theo luật sư, không thể đồng nhất giao dịch có dấu hiệu đáng ngờ với giao dịch vi phạm. Một giao dịch có giá trị lớn, diễn ra xuyên biên giới hoặc chuyển đổi qua nhiều loại tài sản vẫn có thể xuất phát từ nhu cầu đầu tư, kinh doanh hợp pháp. Các dấu hiệu chỉ nên kích hoạt quá trình đánh giá sâu hơn về khách hàng, mục đích giao dịch và nguồn gốc tài sản.
“Doanh nghiệp cần có đủ cơ sở để biết khi nào phải tăng cường xác minh, khi nào phải báo cáo và hồ sơ nào cần lưu giữ. Nếu các tiêu chí chỉ dừng ở mô tả chung, mỗi đơn vị có thể áp dụng theo một cách khác nhau, vừa làm giảm hiệu quả quản lý, vừa phát sinh chi phí tuân thủ không cần thiết”, Luật sư Biên nhận định.
Từ đó, Luật sư Nguyễn Đức Biên cho rằng cùng với việc quy định các dấu hiệu đáng ngờ, cơ quan quản lý cần hướng dẫn rõ nguồn dữ liệu được sử dụng để nhận diện; quy trình đánh giá rủi ro; trường hợp phải tăng cường xác minh; thời điểm, hình thức báo cáo và trách nhiệm lưu giữ hồ sơ.
Đặc biệt, danh sách các quốc gia, vùng lãnh thổ, nền tảng, địa chỉ ví hoặc công cụ có nguy cơ cao cần được cơ quan có thẩm quyền cung cấp và cập nhật thường xuyên. Không nên để từng doanh nghiệp tự thu thập, tự xác định toàn bộ nguồn rủi ro, bởi cách làm này khó bảo đảm độ tin cậy và có thể dẫn đến thiếu thống nhất trong quá trình thực hiện.
Việc chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan quản lý và các tổ chức cung cấp dịch vụ cũng cần được thiết kế phù hợp. Thị trường tài sản mã hóa thay đổi nhanh, trong khi phương thức che giấu dòng tài sản liên tục biến đổi. Một danh mục cố định có thể nhanh chóng lạc hậu nếu không có cơ chế cảnh báo và cập nhật kịp thời.
Bên cạnh đó, yêu cầu tuân thủ cần được thiết kế dựa trên mức độ rủi ro và quy mô hoạt động của từng doanh nghiệp. Nếu áp dụng đồng loạt các nghĩa vụ kỹ thuật, nhân sự và lưu trữ dữ liệu ở mức quá cao, doanh nghiệp mới tham gia thị trường có thể phải gánh chi phí lớn, làm giảm khả năng cạnh tranh và đổi mới.
“Một “luật chơi” minh bạch phải giúp doanh nghiệp nhận diện đúng rủi ro, nhưng không biến mọi giao dịch khác thường thành giao dịch vi phạm. Khi tiêu chí đủ rõ, dữ liệu đủ tin cậy và trách nhiệm được phân định cụ thể, mục tiêu phòng, chống rửa tiền mới có thể song hành với sự phát triển hợp pháp của thị trường tài sản mã hóa”, Luật sư Nguyễn Đức Biên nhấn mạnh.
https://diendandoanhnghiep.vn/tai-san-ma-hoa-can-mot-luat-choi-minh-bach-10181967.html









